MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG QUY CHẾ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 988-QĐ/HVCTQG CỦA HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Thứ ba - 05/05/2026 10:15 6 0
Ngày 20/3/2026, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG về ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị, thay thế Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21/12/2021. Bộ Quy chế mới bao gồm 7 quy chế bao quát toàn diện các mặt công tác của trường chính trị cấp tỉnh, trong đó Quy chế Giảng viên trường chính trị có nhiều điểm mới so với Quy chế cũ.
Về cơ bản, Quy chế mới đã kế thừa những điểm chính của Quy chế Giảng viên của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kèm theo Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21/12/2021 và Quyết định số 23592-QĐ/HVCTQG ngày 26/3/2024 Sửa đổi, bổ sung Điều 4, Điều 5 của Quy chế 6468-QĐ/HVCTQG của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (sau đây gọi là Quy chế cũ), tuy nhiên có nhiều điểm mới điều chỉnh, bổ sung, quy định rõ hơn một số nội dung để thực hiện thống nhất trong toàn quốc và phù hợp với Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn.
Một là, về bố cục: Điều chuyển định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học và quy định kết quả nghiên cứu khoa học ở Quy chế nghiên cứu khoa học sang Quy chế Giảng viên trường chính trị
Giữ nguyên tổng số chương nhưng tăng 3 điều: Theo Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG, Quy chế Giảng viên trường chính trị vẫn giữ nguyên 7 chương với 33 điều, tăng 3 điều so với Quy chế cũ, lý do: chuyển 3 điều tính định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học và quy định kết quả nghiên cứu khoa học ở Quy chế cũ sang. Đồng thời, nhập nội dung Thao giảng và Dự giờ vào cùng 1 chương (Chương V), do vậy, số chương không thay đổi. Việc chuyển cách tính định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học sang Quy chế Giảng viên là phù hợp để thống nhất 2 nhiệm vụ chính của giảng viên trường chính trị: Giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Quy chế cũ gồm 7 chương với 30 điều; Quy chế mới gồm 7 chương, 33 điều và 02 phụ lục kèm theo quy định về các ngành khoa học chính trị, khoa học hành chính hoặc khoa học xã hội và nhân văn, các biểu mẫu liên quan đến mẫu giáo án giảng dạy Trung cấp lý luận chính trị. Cụ thể như sau:
Chương I: Những quy định chung.
Chương II: Tiêu chuẩn, nhiệm vụ.
Chương III: Giảng dạy.
Chương IV: Nghiên cứu khoa học.
Chương V. Thao giảng, dự giờ.
Chương VI. Nghiên cứu thực tế.
Chương VII: Tổ chức thực hiện.
Hai là: Quy định rõ hơn về giảng viên kiêm nhiệm và giảng viên thỉnh giảng
Trong Chương I: Những quy định chung (gồm 3 điều), Quy chế mới đã có điều chỉnh một số diễn đạt cho gọn, rõ hơn so với Quy chế năm 2021. Cụ thể như sau:
Về các chức danh giảng viên (Điều 2): Quy chế mới quy định vẫn có 3 chức danh giảng viên trong trường chính trị là: Giảng viên cao cấp, Giảng viên chính và Giảng viên; tuy nhiên đã lược bỏ phần giải thích từng chức danh ở Quy chế cũ, tiêu chuẩn và nhiệm vụ của từng chức danh này sẽ được quy định cụ thể ở những chương sau.
Quy định rõ hơn về giảng viên thỉnh giảng (Điều 3). Quy chế năm 2026 quy định ngắn gọn nhưng rất rõ về giảng viên kiêm nhiệm và giảng viên thỉnh giảng.
Giảng viên kiêm nhiệm: Là người giữ chức danh giảng viên thuộc biên chế của trường, giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc viên chức tham mưu ở các đơn vị chức năng của trường.
Giảng viên thỉnh giảng: Là người không thuộc biên chế của trường hoặc thuộc biên chế của trường nhưng không giữ chức danh giảng viên, được trường mời tham gia giảng dạy, hướng dẫn và chấm khóa luận tốt nghiệp. Như vậy, giảng viên thỉnh giảng có thể là người ngoài trường được trường mời giảng, hoặc người thuộc biên chế của trường nhưng không giữ chức danh giảng viên được trường mời tham gia hoạt động giảng dạy và một số hoạt động chuyên môn khác.
Tuy nhiên, Quy chế mới chuyển nội dung quyền lợi và nhiệm vụ của giảng viên kiêm nhiệm sang mục 2 của Chương II gồm Điều 8: Nhiệm vụ của giảng viên kiêm nhiệm; Điều 9: Quản lý giảng viên kiêm nhiệm; chuyển nội dung quyền lợi, nhiệm vụ và công tác quản lý giảng viên thỉnh giảng sang mục 3 của Chương II gồm 3 điều: Điều 10: Người tham gia thỉnh giảng; Điều 11: Công nhận, sử dụng giảng viên thỉnh giảng; Điều 12: Nghĩa vụ, quyền lợi của giảng viên thỉnh giảng.
Ba là: Yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn của giảng viên
Đây là điểm thay đổi nhiều nhất trong Quy chế năm 2026 so với quy định cũ. Các điều, khoản quy định về tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ của giảng viên cơ bản được giữ nguyên như trước, song có bổ sung, điều chỉnh các điểm cụ thể trong mỗi khoản làm rõ hơn và yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn, nhiệm vụ của giảng viên. Cụ thể như sau:
Tiêu chuẩn chung: Quy định rõ hơn về tiêu chuẩn chính trị và phẩm chất đạo đức (Điều 4). Quy định cũ có 6 tiêu chuẩn chung, Quy định mới có 7 tiêu chuẩn chung với giảng viên trường chính trị. Giảng viên trường chính trị phải có các tiêu chuẩn chung như:
“3. Có trình độ đại học trở lên về khoa học chính trị, khoa học hành chính hoặc khoa học xã hội và nhân văn;
4. Có trình độ lý luận chính trị theo quy định;
5. Có năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học;
6. Có đủ sức khỏe hoàn thành nhiệm vụ;
7. Lý lịch bản thân rõ ràng”.
Tuy nhiên, Quy chế mới đã tách tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức thành một tiêu chuẩn riêng và quy định cụ thể hơn các phẩm chất phù hợp với bối cảnh hiện nay và xu hướng xây dựng trường chính trị chuẩn. Đặc biệt, Quy chế mới nhấn mạnh và quy định rõ hơn tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, nhấn mạnh phẩm chất tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốclập trường kiên định của giảng viên trường Đảng gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đây là tiêu chuẩn hàng đầu quan trọng nhất. Về phẩm chất đạo đức, ngoài những phẩm chất như trung thực, khiêm tốn, giản dị, tâm huyết với sự nghiệp, Quy định mới nhấn mạnh phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, tinh thần đoàn kết, kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm trong xây dựng, kiến tạo văn hóa trường Đảng. Đồng thời, bổ sung năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để bảo đảm phù hợp với yêu cầu bối cảnh hiện nay. Cụ thể như sau:
“1. Có tinh thần yêu nước, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc; kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối của Đảng; kiên quyết, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2. Có phẩm chất đạo đức trong sáng, trung thực, khiêm tốn, giản dị, lối sống lành mạnh; có tinh thần đoàn kết, cộng tác, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương; có trách nhiệm tham gia kiến tạo văn hóa trường Đảng, tâm huyết, trách nhiệm…
5. Có năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Có năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”.
Tiêu chuẩn cụ thể với giảng viên: Kế thừa, bổ sung, nâng cao tiêu chuẩn chuyên môn
Về cơ bản, những tiêu chuẩn cụ thể của giảng viên được kế thừa những nội dung đã được sửa đổi bởi Quyết định số 23592-QĐ/HVCTQG ngày 26/3/2024 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về sửa đổi, bổ sung Điều 4, Điều 5 Quy chế giảng viên của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, Quy chế mới có điều chỉnh một số nội dung nhằm nâng cao tiêu chuẩn giảng viên trường chính trị.
Giảng viên: Phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (Khoản 1 Điều 5): Quy định cũ giảng viên có 7 tiêu chuẩn cụ thể, Quy định mới có 8 tiêu chuẩn cụ thể. Ngoài những tiêu chuẩn như:
a) Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam;
b) Có bằng tốt nghiệp Trung cấp Lý luận chính trị hoặc Trung cấp Lý luận chính trị - hành chính trở lên. Quy chế mới bổ sung “hoặc có giấy xác nhận tương đương trình độ Cao cấp Lý luận chính trị của cơ quan có thẩm quyền (được cấp trước ngày 09/7/2021).
c) Có bằng tốt nghiệp đạt loại khá trở lên;
d) Có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm hoặc phương pháp dạy học tích cực hoặc có bằng tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên;
đ) Có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên đại học hoặc chức danh nghề nghiệp giảng viên các hạng.
Quy chế mới bổ sung 2 tiêu chuẩn của giảng viên để bảo đảm phù hợp với quy định về trường chính trị chuẩn:
e) Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức kinh điển Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (Quy chế cũ đặt ra yêu cầu với giảng viên chính trở lên);
g) Có năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học (Quy chế cũ chỉ nêu sử dụng thành thạo các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại chưa bao hàm hết tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn: Giảng dạy và nghiên cứu khoa học).
Giảng viên chính: Cơ bản giữ nguyên như Quy chế đã điều chỉnh năm 2024 (Khoản 2 Điều 5): Quy định cũ giảng viên chính có 9 tiêu chuẩn cụ thể, Quy định mới có 8 tiêu chuẩn cụ thể, về cơ bản giữ nguyên các tiêu chuẩn như trong Quy chế cũ đã được sửa đổi năm 2024 như:
“a) Đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể của giảng viên được quy định tại điểm a, d, đ, e của Khoản 1 Điều 5;
b) Có bằng tốt nghiệp Cao cấp Lý luận chính trị hoặc Cao cấp Lý luận chính trị - hành chính trở lên. Quy chế mới bổ sung “hoặc có giấy xác nhận tương đương trình độ Cao cấp Lý luận chính trị của cơ quan có thẩm quyền (được cấp trước ngày 09/7/2021).
c) Có bằng thạc sĩ trở lên phù hợp với chuyên môn giảng dạy.
d) Chủ biên hoặc đồng chủ biên sách hoặc tham gia biên soạn sách được sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng.
đ) Chủ nhiệm đề tài khoa học cấp trường (cấp cơ sở) hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu đạt yêu cầu trở lên; hoặc chủ trì xây dựng đề án cấp trường hoặc cấp cao hơn đã được ban hành.
e) Có bài báo khoa học được công bố trên tạp chí có mã ISSN hoặc trên tạp chí thuộc danh mục ISI hoặc Scopus; hoặc được in trong sách kỷ yếu hội thảo khoa học, tọa đàm khoa học cấp tỉnh trở lên.
g) Có thời gian giữ chức danh giảng viên hoặc tương đương ít nhất là 9 năm đối với người có bằng thạc sĩ, 6 năm đối với người có bằng tiến sĩ (trong đó thời gian giữ ngạch giảng viên ít nhất đủ 12 tháng).
h) Hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn theo quy định”.
Tuy nhiên, Quy chế mới đã lược bỏ tiêu chuẩn có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh do đã đưa vào tiêu chuẩn của giảng viên.
Giảng viên cao cấp: Cơ bản giữ nguyên như Quy chế đã điều chỉnh năm 2024 (Khoản 3 Điều 5): Theo quy định mới, giảng viên cao cấp có 6 tiêu chuẩn cụ thể, về cơ bản giữ nguyên các tiêu chuẩn như trong Quy chế cũ đã được sửa đổi năm 2024 như:
a) Đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể của giảng viên chính.
b) Có bằng tiến sĩ phù hợp với chuyên môn giảng dạy.
c) Chủ biên hoặc đồng chủ biên sách được xuất bản tại nhà xuất bản sách lý luận chính trị và được sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng (Quy chế cũ chỉ yêu cầu chủ biên sách được sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng). Quy định này yêu cầu về chất lượng xuất bản phẩm được xuất bản mà giảng viên cao cấp chủ biên hoặc đồng chủ biên.
d) Chủ nhiệm đề tài khoa học cấp tỉnh hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu đạt yêu cầu trở lên; hoặc chủ trì xây dựng đề án cấp tỉnh hoặc cấp cao hơn đã được ban hành.
đ) Có bài báo khoa học được công bố trên tạp chí có mã ISSN được Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước tính 1,0 điểm hoặc trên tạp chí thuộc danh mục ISI hoặc Scopus.
e) Có thời gian giữ chức danh giảng viên chính hoặc tương đương ít nhất là 6 năm (trong đó thời gian giữ ngạch giảng viên chính ít nhất đủ 12 tháng).
Bốn là: Yêu cầu rõ hơn về nhiệm vụ giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự, nhân phẩm, đạo đức nghề nghiệp, liêm chính học thuật của giảng viên
5 nhiệm vụ chung của giảng viên (Điều 6). Quy định mới cũng đặt ra 5 nhiệm vụ chung của giảng viên, song, ngoài những nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy chế mới đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự, nhân phẩm, đạo đức nghề nghiệp, tính nêu gương, tính liêm chính học thuật và trách nhiệm tham gia xây dựng văn hóa trường Đảng của giảng viên trường chính trị. Cụ thể, giảng viên trường chính trị cấp tỉnh có 5 nhiệm vụ chung sau:
“1. Giảng dạy đúng mục tiêu, nội dung bài giảng; hoàn thành định mức được giao.
2. Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, phát triển lý luận và góp phần xây dựng đảng, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở địa phương.
3. Học tập nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống; nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự, nhân phẩm, đạo đức nghề nghiệp; nêu gương trong hành vi ứng xử; bảo đảm liêm chính học thuật. Phát huy phẩm chất, năng lực của người học.
4. Tham gia xây dựng văn hóa trường Đảng, môi trường học tập dân chủ, kỷ cương, nhân văn và sáng tạo.
5. Tham gia các hoạt động khác do cơ quan, tổ chức phân công”.
Quy định này đòi hỏi giảng viên bên cạnh việc bảo đảm trình độ đào tạo, được bồi dưỡng những chương trình cơ bản, nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn thì phải đặc biệt lưu ý về những khía cạnh khác bảo đảm sự toàn diện về nhân cách, trình độ, tư duy và gương mẫu trong công tác.
Các nhiệm vụ cụ thể của giảng viên (Điều 7). Về cơ bản các nhiệm vụ cụ thể của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp được kế thừa quy định cũ. Cụ thể:
Giảng viên: Có 7 nhiệm vụ cụ thể được quy định tại Khoản 2 Điều 7.
Giảng viên chính: Có 10 nhiệm vụ cụ thể được quy định tại Khoản 3 Điều 7.
Giảng viên cao cấp: Có 9 nhiệm vụ cụ thể được quy định tại Khoản 4 Điều 7.
Năm là: Quy định rõ hơn về công nhận, sử dụng, nghĩa vụ của giảng viên thỉnh giảng: Tham gia giảng dạy ít nhất 10% thời lượng chương trình
Quy chế năm 2021 quy định về giảng viên thỉnh giảng tại Khoản 2, Khoản 3 của Điều 3 thuộc Chương I Những quy định chung và Mục 2 của Chương II Tiêu chuẩn, nhiệm vụ (Điều 8, 8, 9, 10). Quy chế năm 2026 quy định về giảng viên thỉnh giảng trong mục 3 của Chương II Tiêu chuẩn, nhiệm vụ (Điều 10, 11 và 12). Về cơ bản, Quy chế mới kế thừa những nội dung của Quy chế cũ, song bổ sung một số điểm mới về việc công nhận, sử dụng giảng viên thỉnh giảng.
Tại điểm c Khoản 1 Điều 11 quy định: Hằng năm, trường báo cáo tỉnh ủy, thành ủy về công tác sử dụng giảng viên thỉnh giảng, trong đó đề xuất danh sách giảng viên thỉnh giảng của năm tiếp theo. Điều này giúp việc công nhận và sử dụng giảng viên thỉnh giảng nền nếp hơn khi không chỉ mời họ tham gia giảng dạy mà còn có báo cáo đánh giá hằng năm và đề xuất danh sách cho năm tiếp theo. Điều đó có nghĩa là, việc công nhận, sử dụng giảng viên thỉnh giảng được rà soát, điều chỉnh, bổ sung hằng năm, rất phù hợp với tình hình thực tiễn và chủ động trước sự biến động về cán bộ lãnh đạo quản lý được mời thỉnh giảng (nếu thay đổi).
Cũng tại điểm a Khoản 2 Điều 11 quy định: “Trường có trách nhiệm mời giảng viên thỉnh giảng tham gia giảng dạy, báo cáo chuyên đề trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 10% thời lượng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng hằng năm”. Đồng thời, Quy chế yêu cầu phải sử dụng có hiệu quả đội ngũ giảng viên thỉnh giảng và giảng viên thuộc biên chế của trường bảo đảm kết hợp hài hòa. Điều này Quy chế cũ không quy định, vấn đề đặt ra với các trường chính trị là phải xây dựng kế hoạch giảng dạy, trong đó tính toán, bố trí thời lượng 10% chương trình để mời giảng viên thỉnh giảng – thời lượng không ít, là một bài toán với một số trường, bởi hiện nay đa số các trường sau sáp nhập có số lượng giảng viên trong biên chế của trường đông, trong khi số lớp đào tạo, bồi dưỡng mở hằng năm không được nhiều. Tuy vậy, việc này sẽ bảo đảm chương trình đào tạo, bồi dưỡng sẽ có sự tham gia trực tiếp của các chuyên gia, nhà lãnh đạo quản lý có kinh nghiệm thực tiễn, hy vọng gắn kết chặt chẽ hơn giữa lý luận và thực tiễn.
Tại Khoản 1 Điều 12, nghĩa vụ của giảng viên thỉnh giảng: Trong Quy chế cũ chỉ quy định: “Hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng thỉnh giảng với trường” (Khoản 1 Điều 10). Quy chế mới quy định cụ thể hơn:
“a) Tham gia giảng dạy, báo cáo chuyên đề trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn và chấm khóa luận tốt nghiệp theo phân công của trường.
b) Tham gia sinh hoạt chuyên môn, các hoạt động khoa học, hội nghị tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng của khoa, của trường”.
Điều này có nghĩa là giảng viên thỉnh giảng được tham gia nhiều hoạt động chuyên môn của trường, không chỉ giảng dạy mà còn sinh hoạt chuyên môn, hội thảo khoa học, hướng dẫn học viên viết khóa luận và chấm khóa luận tốt nghiệp. Quy định này sẽ nâng cao trách nhiệm của giảng viên thỉnh giảng đối với công tác giảng dạy của Trường chính trị, đồng thời yêu cầu các trường chính trị phải rà soát, kiện toàn đội ngũ giảng viên thỉnh giảng có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm thực tiễn, cần thiết phải có kỹ năng và nghiệp vụ sư phạm và tâm huyết với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Sáu là: Về quy định tính giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên
Về nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên được quy định tại Chương III với 4 điều (từ Điều 13 đến Điều 16). Về định mức thời gian làm việc (Điều 13), Định mức giờ chuẩn giảng dạy (Điều 14), Định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên kiêm nhiệm (Điều 15), Quy định tính giờ chuân (Điều 16) cơ bản kế thừa Quy chế cũ. Tuy vậy, tại Điều 16 Quy chế mới bổ sung một số điểm cho phù hợp với mô hình đồng giảng (2 giảng viên/1 buổi), chấm thi theo nhóm và tính giờ chuẩn cho giảng viên tham gia chấm thi giảng viên giỏi cấp trường, chấm thi học viên giỏi lý luận chính trị. Cụ thể như sau:
Về giảng dạy: Khoản 1 Điều 16 Điều chỉnh, bổ sung: a) Giảng bài, thảo luận trên lớp (giảng viên thứ nhất): 01 tiết (45 phút) tính 1,0 giờ chuẩn. b) Giảng bài, thảo luận trên lớp (giảng viên thứ hai): 01 tiết (45 phút) tính 0,75 giờ chuẩn.
Về ra đề thi: Khoản 3 Điều 16 bổ sung: d) Ra 1 đề thi và đáp án thi theo nhóm tính từ 1,5 đến 2,0 giờ chuẩn. Duyệt 1 đề thi và đáp án tính 0,5 giờ chuẩn.
Về chấm thi: Khoản 5 Điều 16 bổ sung: d) Chấm bài thi theo nhóm được tính từ 1,0 đến 1,5 giờ chuẩn/nhóm.
Bổ sung Khoản 8 Điều 16: “8. Chấm thi học viên giỏi lý luận chính trị được tính từ 2,0 đến 3,0 giờ chuẩn/buổi”.
Đặc biệt, Quy chế mới đã bỏ định mức giờ chuẩn với thành viên tham gia Hội đồng tuyển sinh và Hội đồng thi tốt nghiệp tại Khoản 6 và 7 Điều 14 Quy chế cũ.

Bảy là: Chuyển định mức tính giờ chuẩn nghiên cứu khoa học từ Quy chế nghiên cứu khoa học sang Quy chế giảng viên
Điểm mới căn bản của Quy chế mới là chuyển 3 điều định mức tính giờ chuẩn nghiên cứu khoa học từ Quy chế nghiên cứu khoa học sang Quy chế giảng viên. Về cơ bản, định mức giờ chuẩn nghiên cứu khoa học của giảng viên và giảng viên kiêm nhiệm không thay đổi; Quy định kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên cũng giữ nguyên như Quy chế cũ, song có lược bớt một số nội dung số công trình được tính và yêu cầu cụ thể hơn một số nội dung phù hợp với thực tiễn hiện nay và quy định về trường chính trị chuẩn. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: Về số lượng nội dung các công trình được tính: Quy chế cũ quy định có 32 nội dung được tính công trình; Quy chế mới lược bớt 11 nội dung, song bổ sung 2 nội dung mới, tổng số có 23 nội dung công trình được tính.
Thứ hai: 2 nội dung công trình mới được bổ sung:
(1) Bài đăng trên Việt Nam thịnh vượng: 30 giờ chuẩn.
(2) Mô hình điển hình phục vụ công tác quản lý giảng dạy, học tập được Hội đồng thẩm định và sử dụng trong nhà trường: 200 giờ chuẩn.
Thứ ba: 11 nội dung công trình được lược bỏ gồm (thứ tự theo Quy chế cũ):
4. Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa (100 giờ chuẩn/1 đề tài).
17. Bài công bố trên kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa (40 giờ chuẩn/1 bài).
18. Báo cáo kết quả khảo sát thực tế phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn (50 giờ chuẩn/1 bài).
24. Bài nhận xét thẩm định sau nghiệm thu (hoặc trước khi xuất bản) của đề án, chương trình, đề tài cấp bộ, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng (60 giờ chuẩn/1 bài).
25. Bài nhận xét thẩm định sau nghiệm thu (hoặc trước khi xuất bản) của đề án, chương trình, đề tài cấp tỉnh, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng; bài nhận xét của phản biện hội đồng nghiệm thu đề tài cấp bộ (50 giờ chuẩn/1 bài).
26. Bài nhận xét của chủ tịch hội đồng nghiệm thu đề tài cấp bộ, tỉnh (40 giờ chuẩn/1 bài).
27. Bài nhận xét của ủy viên hội đồng nghiệm thu đề tài cấp bộ; bài nhận xét của phản biện hội đồng nghiệm thu đề tài cấp tỉnh; bài nhận xét của chủ tịch hội đồng nghiệm thu đề tài cấp trường (40 giờ chuẩn/1 bài).
28. Bài nhận xét của ủy viên hội đồng nghiệm thu đề tài cấp tỉnh; bài nhận xét của phản biện hội đồng nghiệm thu đề tài cấp trường; bài nhận xét của chủ tịch hội đồng nghiệm thu đề tài cấp khoa (30 giờ chuẩn/1 bài).
29. Bài nhận xét của ủy viên hội đồng nghiệm thu đề tài cấp trường; bài nhận xét của phản biện hội đồng nghiệm thu đề tài cấp khoa (20 giờ chuẩn/1 bài).
30. Bài nhận xét của ủy viên hội đồng nghiệm thu đề tài cấp khoa (10 giờ chuẩn/1 bài).
32. Biên tập bài đăng tạp chí bản tin “Thông tin Lý luận và Thực tiễn”, bài nghiên cứu đăng trang thông tin điện tử, biên tập bài hội thảo khoa học của nhà trường (205 giờ quy đổi của công trình biên tập).
Thứ tư: Điều chỉnh một số diễn đạt, quy định rõ hơn:
- Đối với thành viên tham gia nhiệm vụ nghiên cứu khoa học các cấp: Thư ký vẫn bằng 30% mức giờ của Chủ nhiệm, song thành viên tham gia tổng vẫn được tính 70% mức giờ của Chủ nhiệm, song đã được tách thành 2 loại cho phù hợp với quy định mới (có thành viên chính và thành viên): Thành viên chính bằng 40% mức giờ của Chủ nhiệm (chia đều cho các thành viên); thành viên tham gia bằng 30% mức giờ của Chủ nhiệm (chia đều cho các thành viên).
- Đối với “báo cáo kiến nghị được chắt lọc từ kết quả nghiên cứu khoa học” được điều chỉnh thành: “Báo cáo kiến nghị (gửi trung ương hoặc tỉnh ủy, thành ủy) từ kết quả nghiên cứu khoa học”: 50 giờ chuẩn.
Tám là, Quy định về thao giảng, dự giờ cơ bản kế thừa Quy chế cũ (Chương V)
Việc thao giảng và chấm giáo án của giảng viên tham gia thao giảng cơ bản được kế thừa Quy chế cũ: Xây dựng kế hoạch thao giảng giao cho khoa xây dựng trình hiệu trưởng phê duyệt; việc chấm giáo án giao cho trưởng, phó khoa tổ chức chấm; quy trình thao giảng và cách tính điểm, xếp loại không thay đổi (xếp 4 loại: Không đạt; Trung bình; Khá; Giỏi; Xuất sắc); song, Quy chế mới lược bớt quy định về nội dung chấm giáo án và chấm thao giảng vì đã thực hiện theo mẫu phiếu do hiệu trưởng quy định.
Việc dự giờ và tổ chức đánh giá hoạt động dự giờ cơ bản kế thừa Quy chế cũ.
Chín là, một số điểm mới Quy định về nghiên cứu thực tế (Chương VI)
Cơ bản các quy định về nghiên cứu thực tế được kế thừa Quy chế cũ, song có điều chỉnh một số nội dung cho khoa học, tránh trùng lặp. Cụ thể như sau:
Nội dung báo cáo thu hoạch nghiên cứu thực tế hằng năm: bỏ dung lượng (từ 10 đến 15 trang), đồng thời quy định rõ hơn về bố cục báo cáo: Lý do chọn vấn đề; thực trạng vấn đề; nghiên cứu (kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân); đề xuất giải pháp, kiến nghị với địa phương, cơ quan, đơn vị; vận dụng kết quả nghiên cứu thực tế vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.
Đối tượng đi nghiên cứu thực tế có kỳ hạn: Điều chỉnh độ tuổi với giảng viên: Nam dưới 48 tuổi (Quy chế cũ là 50 tuổi); Nữ dưới 46 tuổi (Quy chế cũ là 45 tuổi).
Thời gian đi nghiên cứu thực tế có kỳ hạn: Tăng từ 6 tháng đến 2 năm (Quy chế cũ là từ 6 tháng đến 12 tháng).
Quy trình đi nghiên cứu thực tế có kỳ hạn: Vẫn thực hiện theo 5 bước, song lược bỏ nội dung và phương thức đi thực tế có kỳ hạn (Điều 28 Quy chế cũ), bởi trong kế hoạch của trường đã có nội dung này (Điều 32 Quy chế mới).
Có thể nói, Quy chế Giảng viên trường chính trị kế thừa nhiều điểm của Quy chế cũ, song đã điều chỉnh, bổ sung nhiều nội dung cho phù hợp với bối cảnh hiện nay và đồng bộ với quy định xây dựng trường chính trị chuẩn; quan trọng hơn là nâng cao tiêu chuẩn, nhiệm vụ của giảng viên trường chính trị. Việc nắm vững các điểm mới của quy chế sẽ giúp giảng viên nhận thức rõ hơn về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và góp phần xây dựng trường chính trị đạt chuẩn theo quy định của Ban Bí thư.

Tác giả bài viết: TS. Trần Thúy Hoàn - Phó Hiệu trưởng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn đã từng học tại nhà trường chưa?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập20
  • Hôm nay2,666
  • Tháng hiện tại23,729
  • Tổng lượt truy cập8,037,350
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây