7 quy chế toàn diện về các mặt công tác trường chính trị
Theo Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bộ quy chế mới về công tác trường chính trị gồm 07 quy chế bao quát toàn diện các mặt công tác của trường chính trị cấp tỉnh:
(1) Quy chế đào tạo Trung cấp Lý luận chính trị.
(2) Quy chế Quản lý hoạt động bồi dưỡng của trường chính trị.
(3) Quy chế hoạt động khoa học của trường chính trị.
(4) Quy chế Giảng viên trường chính trị.
(5) Quy chế Hội thi giảng viên dạy giỏi các trường chính trị.
(6) Quy chế Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến của trường chính trị.
(7) Quy chế Kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học của trường chính trị.
Trong 7 quy chế về công tác trường chính trị thì có 6 quy chế được kế thừa, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay so với các quy chế do Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành năm 2021, 2022 và năm 2024; có 01 quy chế mới: Quy chế Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến của trường chính trị. Nội dung từng quy chế có nhiều điểm mới, phương pháp tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến so với các quy chế trước đây.
Một số điểm mới của Quy chế đào tạo Trung cấp lý luận chính trị
Theo Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG, Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị gồm 8 chương, 61 điều và 11 phụ lục kèm theo quy định về các biểu mẫu liên quan đến tổ chức, giảng dạy Trung cấp lý luận chính trị (Quy chế cũ có 9 chương và 57 điều), về cơ bản kế thừa những điểm chính của Quy chế cũ, tuy nhiên có nhiều điểm mới điều chỉnh, bổ sung, quy định rõ hơn một số nội dung để thực hiện thống nhất trong toàn quốc và phù hợp với bối cảnh hiện nay.
Tổ chức lớp học: Quy mô lớp nhỏ hơn
Điểm mới nổi bật trong Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị là quy định số học viên trong một lớp. Tại khoản 1 Điều 10 quy định: “1. Số lượng học viên: Hệ tập trung không quá 30 học viên/lớp; hệ không tập trung không quá 50 học viên/lớp”. So với quy định cũ, số học viên trên lớp giảm khá nhiều: Lớp hệ tập trung theo quy chế cũ là không quá 50 học viên/lớp; hệ không tập trung không quá 80 học viên/lớp. Việc giảm số lượng học viên trên lớp thực chất là tổ chức lớp học theo quy mô nhỏ, nhằm tạo điều kiện giảng viên bao quát lớp tốt hơn, quan tâm nhiều hơn đến học viên, tổ chức các phương pháp giảng dạy tích cực (chia nhóm thảo luận, xử lý tình huống, chuyên gia,…) dễ thực hiện hơn, học viên thực sự là trung tâm, do đó, chất lượng đào tạo kỳ vọng sẽ được nâng lên.
Và đối tượng dự tuyển học Trung cấp lý luận chính trị hệ không tập trung tại Quy chế mới đã điều chỉnh phù hợp với Quy định số 350-QĐ/TW ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị. Chẳng hạn, tại khoản 4 Điều 5: “Cán bộ học hệ không tập trung: Nữ từ 28 tuổi, nam từ 30 tuổi trở lên” (quy định cũ: nữ từ 33 tuổi, nam từ 35 tuổi trở lên).
Đổi mới mô hình giảng dạy – “đồng giảng”, “giảng viên và học viên đồng kiến tạo giá trị mới, tri thức mới”
Điểm mới căn bản thứ hai mang tính đột phá trong Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị là chính thức thực hiện mô hình “đồng giảng”. Theo đó, mỗi buổi học thay vì 1 giảng viên giảng dạy như trước đây, tại khoản 2 Điều 10 Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG quy định: “Mỗi buổi học bố trí 02 giảng viên. Giảng viên thứ nhất tham gia chính về nội dung và phương pháp giảng dạy. Giảng viên thứ hai hỗ trợ giảng viên thứ nhất các nội dung và hoạt động trên lớp theo sự phân công của giảng viên thứ nhất. Giáo án do 2 giảng viên cùng xây dựng, thể hiện rõ mô hình đồng giảng, phân chia rõ vai trò, nhiệm vụ của mỗi giảng viên trong buổi học, được khoa chuyên môn và ban giám hiệu phê duyệt trước khi thực hiện”. Đây là sự thay đổi lớn trong công tác giảng dạy ở trường chính trị. Song, đây là mô hình giảng dạy hiện đại, được nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã và đang áp dụng và mang lại hiệu quả tích cực trong bối cảnh hiện đại và hội nhập quốc tế hiện nay. Không còn độc giảng truyền thống của 01 giảng viên; thay vào đó là 02 giảng viên cùng tham gia giảng dạy, nhưng không phải là “dự giờ”, không phải “trợ giảng”, mà là thực hiện theo mô hình “đồng giảng”. Việc phối hợp nhiều giảng viên trong một buổi học nhằm tăng tính phản biện và đa dạng góc nhìn; đòi hỏi phải thay đổi toàn bộ cách thức tổ chức lớp học, từ khâu thiết kế giáo án, chuẩn bị thiết bị, đồ dùng giảng dạy, ứng dụng phương pháp, phương tiện đến tổ chức giảng dạy trên lớp, yêu cầu cả 2 giảng viên cùng tham gia bảo đảm “ăn khớp”, “đồng điệu”, lấy người học làm trung tâm, tăng cường thảo luận, trao đổi, xử lý tình huống thực tiễn hướng đến mô hình giảng viên và học viên “đồng kiến tạo giá trị và tri thức mới”. Theo định hướng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thực chất đây là đổi mới phương thức đào tạo theo hướng “huấn luyện cán bộ bằng tình huống thực tiễn, sát với đối tượng người học” trong quy mô lớp nhỏ hơn trước đây, tạo điều kiện để quan tâm nhiều hơn tới học viên, thực sự lấy người học làm trung tâm, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo.
Quy định số lượng thành viên một số hội đồng
Thực tế hiện nay, nhiều trường chính trị cấp tỉnh sau hợp nhất, sáp nhập có số lượng cấp phó lãnh đạo trường nhiều hơn so với quy định (không quá 02 phó hiệu trưởng). Điều này gây khó khăn cho các trường khi thành lập một số hội đồng bởi số lượng cấp phó lãnh đạo đông, có trường có đến 5 và 7 phó hiệu trưởng. Tất cả các phó hiệu trưởng trên thực tế không nhất thiết phải tham gia hết trong một hội đồng, gây cồng kềnh, chồng chéo hoặc nhiệm vụ sẽ bị chia nhỏ, khó khăn trong khâu tổ chức thực hiện. Quy chế mới đã quy định rõ một số hội đồng chỉ có không quá 02 đồng chí phó hiệu trưởng tham gia phó chủ tịch hội đồng.
Điều 7, quy định về hội đồng tuyển sinh: Số lượng từ 7 đến 9 thành viên, chủ tịch là hiệu trưởng; phó chủ tịch không quá 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị.
Điều 23, khoản 2 về hội đồng xét điều kiện dự thi tốt nghiệp: Chủ tịch là hiệu trưởng; phó chủ tịch không quá 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị.
Điều 25, khoản 1 quy định rõ về thành viên các ban của hội đồng thi tốt nghiệp: Trưởng ban đề thi, ban chấm thi là hiệu trưởng; trưởng ban chấm thi là phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị; tổ trưởng tổ thư ký là trưởng phòng quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học.
Điều 29, khoản 1 về hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp: Chủ tịch là Hiệu trưởng; phó chủ tịch không quá 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị.
Khoản 2 Điều 42 về hội đồng xét tốt nghiệp: Chủ tịch là Hiệu trưởng; phó chủ tịch hội đồng là 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị.
Quy định về tuyển sinh bổ sung
Quy chế cũ không có quy định riêng về việc tuyển sinh bổ sung; song tại điểm d khoản 5 Điều 8 có quy định học viên được nhập học chậm nhất vào thời điểm kết thúc học phần thứ nhất. Quy chế mới bổ sung Điều 9 về việc tuyển sinh bổ sung, trong đó quy định điều kiện tuyển sinh bổ sung là thời gian học của lớp chưa kết thúc học phần đầu tiên và số lượng học viên của lớp chưa đạt số lượng học viên tối đa theo quy định. Quy trình tuyển sinh bổ sung thực hiện theo quy định tuyển sinh tại Điều 8.
Quy định về chuyển trường, chuyển hệ - Chỉ được chuyển từ hệ không tập trung sang hệ tập trung
Đây là điểm mới so với quy chế cũ. Tại Điều 11: Chuyển hệ đào tạo, chuyển trường, quy định:
“1. Học viên được chuyển từ hệ đào tạo không tập trung sang hệ tập trung nếu cùng tiến độ giảng dạy, học tập; lớp chuyển đến còn đủ điều kiện tiếp nhận thêm học viên; được cơ quan cử đi học và hiệu trưởng đồng ý.
2. Học viên được chuyển trường trong trường hợp chuyển công tác đến tỉnh, thành phố hoặc bộ, ngành khác; được cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hiệu trưởng nơi chuyển đến đồng ý”.
Tiêu chuẩn chủ nhiệm lớp
Điều 12: khoản 3 về tiêu chuẩn chủ nhiệm lớp: Ngoài những tiêu chuẩn như là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác tại trường chính trị 2 năm trở lên, nắm vững chương trình đào tạo, quy chế, quy định, có trình độ trung cấp lý luận chính trị,… theo Quy chế mới, chủ nhiệm lớp phải có trình độ chuyên môn từ thạc sĩ trở lên (quy chế cũ là trình độ đại học trở lên). Đây là yêu cầu mới nhằm nâng cao chất lượng của cán bộ chủ nhiệm lớp.
Đi nghiên cứu thực tế sau khi học hết ½ chương trình
Điều 22, khoản 1, về thời điểm trường tổ chức cho học viên đi nghiên cứu thực tế là sau khi học xong ít nhất ½ (một nửa) chương trình đào tạo. Điều này khác so với quy chế cũ: sau khi học viên học xong ít nhất 2 học phần có thể được đi nghiên cứu thực tế.
Điểm mới trong tổ chức thi hết học phần
Điều 15, khoản 2, khoản 3 về các hình thức và cách thức thi hết học phần, ngoài 3 hình thức cũ là tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, Quy chế mới bổ sung một hình thức thi mới: thi theo nhóm; do đó cách thức thi cũng có 4 cách thức: làm bài trên giấy (thi tự luận, trắc nghiệm), làm bài trên máy tính (thi trắc nghiệm), hỏi đáp trực tiếp (thi vấn đáp) và thực hành theo nhóm (thi theo nhóm). Hình thức thi theo nhóm thực chất là thi theo chủ đề, dự án học tập để nhóm học viên chuẩn bị và thuyết trình, có thể đánh giá học viên không chỉ về kiến thức, kỹ năng mà còn cả khả năng thuyết trình, làm việc nhóm, xây dựng dự án học tập.
Cách tính điểm xét tốt nghiệp
Quy chế cũ quy định điểm học phần, điểm bài thu hoạch nghiên cứu thực tế tính hệ số 1; điểm thi tốt nghiệp (hoặc khóa luận tốt nghiệp) tính hệ số 3; và công thức tính điểm trung bình toàn khóa bằng tổng điểm thi hết học phần và bài thu hoạch nghiên cứu thực tế, điểm tốt nghiệp sau khi nhân hệ số chia cho 17.
Quy chế mới tại Điều 33 quy định: điểm học phần, điểm bài thu hoạch nghiên cứu thực tế tính hệ số 1; điểm thi tốt nghiệp và điểm khóa luận tốt nghiệp tính hệ số 2; và công thức tính điểm trung bình toàn khóa bằng tổng điểm thi hết học phần và bài thu hoạch nghiên cứu thực tế, điểm tốt nghiệp sau khi nhân hệ số chia cho 16.
Đặc biệt, Quy chế mới bổ sung Điều 39 quy định điểm rèn luyện sang điểm học tập toàn khóa: “1. Điểm rèn luyện từ 9,0 trở lên được tính 0,3 điểm và được cộng vào điểm trung bình toàn khóa nhưng không quá 10,0 điểm. 2. Điểm rèn luyện từ 8,0 đến dưới 9,0 điểm được tính 0,2 điểm và được cộng vào điểm trung bình toàn khóa nhưng không quá 10,0 điểm”. Đây là điểm rất mới so với quy chế cũ nhằm đánh giá và ghi nhận những học viên có ý thức và tinh thần, thái độ học tập tốt, rèn luyện tốt.
Quy định về sổ gốc cấp bằng tốt nghiệp
Tại khoản 4 Điều 44, Quy chế quy định về sổ gốc cấp bằng phải theo quy định về mẫu và kích thước và đặc biệt “sổ ít nhất có 200 trang để sử dụng cho nhiều lớp, không được mỗi lớp 1 sổ”.
Tích hợp quy định đánh giá chất lượng đào tạo vào Quy chế Đào tạo
Trước đây Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có quy định riêng về quy định đánh giá chất lượng đào tạo Trung cấp lý luận chính trị của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kèm theo Quyết định số 8678-QĐ/HVCTQG ngày 08/4/2022). Tại Chương VI, Quy chế mới dành 5 điều (từ Điều 50 đến Điều 54) tích hợp Quy định đánh giá chất lượng đào tạo vào Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. Điều này là phù hợp bảo đảm tính đồng bộ trong quy trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị: Tuyển sinh – tổ chức lớp học, tổ chức học - tổ chức thi hết học phần và nghiên cứu thực tế - thi tốt nghiệp – đánh giá chất lượng đào tạo.
Ngoài một số điểm mới nêu trên, Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị mới còn một số điểm điều chỉnh so với quy chế cũ như: Ra đề: Giảm số đề thi vấn đáp hết học phần xuống từ 8 đến 10 đề (Quy chế cũ là 10 đề); thi vấn đáp thì thời gian mỗi học viên chuẩn bị không quá 10 phút (trước đây là không quá 15 phút), trả lời không quá 15 phút; giảm dung lượng bài thu hoạch nghiên cứu thực tế còn 8 đến 10 trang A4 (trước đây là 10 đến 15 trang khổ giấy A4); giảm dung lượng khóa luận tốt nghiệp còn 20 đến 25 trang (không bao gồm phụ lục nếu có), trước đây quy định dung lượng là 20 đến 30 trang; học viên nộp khóa luận trong thời gian 15 ngày kể từ khi có quyết định giao đề tài và phân công người hướng dẫn (quy định cũ là 20 ngày); việc lưu trữ hồ sơ được thực hiện bằng hồ sơ bản giấy và hồ sơ điện tử (áp dụng hình thức số hóa), bảo đảm yêu cầu bảo quản, khai thác hồ sơ theo quy định.
Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị với nhiều điểm mới so với quy chế cũ đòi hỏi các trường chính trị tổ chức, quán triệt sâu rộng trong toàn trường, nghiên cứu kỹ lưỡng để tổ chức triển khai nghiêm túc, đúng quy định. Tuy nhiên, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh quy định: Những lớp tuyển sinh theo quy chế cũ thì vẫn tiếp tục thực hiện theo Quy chế Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21/12/2021 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh./.
BẢNG SO SÁNH
ĐIỂM MỚI CỦA QUY CHẾ ĐÀO TẠO TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 988-QĐ/HVCTQG
NGÀY 20/3/2026
| TT |
Nội dung |
Quy chế theo Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG |
Quy chế theo Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG |
| 1 |
Số lượng học viên/lớp |
Hệ tập trung không quá 50 học viên/lớp; hệ không tập trung không quá 80 học viên/lớp. |
Hệ tập trung không quá 30 học viên/lớp; hệ không tập trung không quá 50 học viên/lớp. |
| 2 |
Tuổi cán bộ dự tuyển hệ không tập trung |
Nữ từ 33 tuổi, nam từ 35 tuổi trở lên. |
Nữ từ 28 tuổi, nam từ 30 tuổi trở lên. |
| 3 |
Giảng viên/buổi |
Không quy định, nhưng thực hiện mỗi buổi học chỉ bố trí 01 giảng viên. |
Mỗi buổi học bố trí 02 giảng viên; mô hình “đồng giảng”. |
| 4 |
Hội đồng tuyển sinh |
Không quy định số lượng; phó chủ tịch gồm các phó hiệu trưởng. |
Số lượng từ 7 đến 9 thành viên, chủ tịch là hiệu trưởng; phó chủ tịch không quá 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. |
| 5 |
Hội đồng xét điều kiện dự thi tốt nghiệp |
Thành phần: Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, đại diện lãnh đạo các khoa, phòng, chủ nhiệm lớp. |
Chủ tịch là hiệu trưởng; phó chủ tịch không quá 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. |
| 6 |
Thi tốt nghiệp |
Không quy định cụ thể. |
Trưởng ban đề thi, ban chấm thi là hiệu trưởng; trưởng ban chấm thi là phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. |
| 7 |
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp |
Chủ tịch là Hiệu trưởng hoặc 1 phó hiệu trưởng được ủy quyền; phó chủ tịch là phó hiệu trưởng. |
Chủ tịch là Hiệu trưởng; phó chủ tịch không quá 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. |
| 8 |
Hội đồng xét tốt nghiệp |
Chủ tịch: Hiệu trưởng; phó chủ tịch: Phó hiệu trưởng. |
Chủ tịch là Hiệu trưởng; phó chủ tịch 02 phó hiệu trưởng, trong đó có phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. |
| 9 |
Điều kiện tuyển sinh bổ sung |
Học viên được nhập học chậm nhất vào thời điểm kết thúc học phần thứ nhất |
Thời gian học của lớp chưa kết thúc học phần đầu tiên. |
| 10 |
Chuyển hệ |
Không quy định |
Học viên được chuyển từ hệ đào tạo không tập trung sang hệ tập trung nếu cùng tiến độ giảng dạy, học tập; lớp chuyển đến còn đủ điều kiện tiếp nhận thêm học viên; được cơ quan cử đi học và hiệu trưởng đồng ý. |
| 11 |
Chuyển trường |
Không quy định. |
Học viên được chuyển trường trong trường hợp chuyển công tác đến tỉnh, thành phố hoặc bộ, ngành khác; được cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hiệu trưởng nơi chuyển đến đồng ý. |
| 12 |
Chủ nhiệm lớp |
Trình độ chuyên môn từ đại học trở lên. |
Trình độ chuyên môn từ thạc sĩ trở lên. . |
| 13 |
Học viên đi nghiên cứu thực tế |
Sau khi học xong ít nhất 2 học phần.
|
Sau khi học xong ít nhất ½ (một nửa) chương trình đào tạo. |
| 14 |
Hình thức và cách thức thi hết học phần |
Tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp.
|
Tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, thi theo nhóm.
|
| 15 |
Cách thức thi hết học phần |
Làm bài trên giấy (thi tự luận, trắc nghiệm), làm bài trên máy tính (thi trắc nghiệm), hỏi đáp trực tiếp (thi vấn đáp). |
Làm bài trên giấy (thi tự luận, trắc nghiệm), làm bài trên máy tính (thi trắc nghiệm), hỏi đáp trực tiếp (thi vấn đáp) và thực hành theo nhóm (thi theo nhóm). |
| 16 |
Hệ số điểm xét tốt nghiệp |
Điểm học phần, điểm bài thu hoạch nghiên cứu thực tế tính hệ số 1; điểm thi tốt nghiệp (hoặc khóa luận tốt nghiệp) tính hệ số 3. |
Điểm học phần, điểm bài thu hoạch nghiên cứu thực tế tính hệ số 1; điểm thi tốt nghiệp và điểm khóa luận tốt nghiệp tính hệ số 2. |
| 17 |
Công thức tính điểm trung bình toàn khóa |
= Tổng điểm thi hết học phần và bài thu hoạch nghiên cứu thực tế, điểm tốt nghiệp sau khi nhân hệ số chia cho 17. |
= Tổng điểm thi hết học phần và bài thu hoạch nghiên cứu thực tế, điểm tốt nghiệp sau khi nhân hệ số chia cho 16. |
| 18 |
Quy đổi điểm rèn luyện sang điểm học tập |
Không quy định. |
Điểm rèn luyện từ 9,0 trở lên được tính 0,3 điểm và được cộng vào điểm trung bình toàn khóa nhưng không quá 10,0 điểm. 2. Điểm rèn luyện từ 8,0 đến dưới 9,0 điểm được tính 0,2 điểm và được cộng vào điểm trung bình toàn khóa nhưng không quá 10,0 điểm. |
| 19 |
Sổ cấp bằng tốt nghiệp |
Không quy định rõ. |
Sổ ít nhất có 200 trang để sử dụng cho nhiều lớp, không được mỗi lớp 1 sổ”. |
| 20 |
Quy định đánh giá chất lượng đào tạo |
Có Quy định riêng. |
Bổ sung, tích hợp Quy định đánh giá chất lượng đào tạo và Quy chế Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị. |
| 21 |
Ra đề thi vấn đáp hết học phần |
10 đề. |
Từ 8 đến 10 đề. |
| 22 |
Thời gian chuẩn bị thi vấn đáp |
Mỗi học viên chuẩn bị không quá 15 phút. |
Mỗi học viên chuẩn bị không quá 10 phút. |
| 23 |
Bài thu hoạch nghiên cứu thực tế |
Dung lượng 10 đến 15 trang A4. |
Dung lượng 8 đến 10 trang A4. |
| 24 |
Khóa luận tốt nghiệp |
Dung lượng 20 đến 30 trang. |
Dung lượng 20 đến 25 trang. |
| 25 |
Học viên nộp khóa luận |
Trong thời gian 20 ngày kể từ khi có quyết định giao đề tài và phân công người hướng dẫn. |
Trong thời gian 15 ngày kể từ khi có quyết định giao đề tài và phân công người hướng dẫn. |
| 26 |
Lưu trữ hồ sơ |
Hồ sơ bản giấy. |
Hồ sơ bản giấy và hồ sơ điện tử (áp dụng hình thức số hóa). |
Xem toàn văn Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20/3/2026 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới đây.